fbpx

Bài này sẽ giải thích về sự khác nhau giữa các kiểu hiển thị thông báo trên ứng dụng và cách sử dụng chúng cho hợp lý.

Đây là bài thứ 5 trong loạt bài Phân tích các tính năng của Shashank Sahay trên Medium. Nội dung bài viết sẽ không chỉ ra chi tiết hết về các kiểu hiển thị thông báo, nhưng cung cấp một cách đầy đủ, rõ nghĩa và giúp mọi người chọn được kiểu hiển thị thông báo phù hợp cho ứng dụng của mình.

Đầu tiên thì bạn cần phải hiểu rõ thông báo trên ứng dụng là gì, chúng bao gồm những gì. Thông báo là những thông tin đơn lẻ được gửi từ ứng dụng đến người dùng. Dưới đây là những thành phần quan trọng của một thông báo.

Các mô hình thiết kế hiển thị thông báo

Source (nguồn gốc): Là nơi sinh ra các thông báo, một số ứng dụng sẽ có kiến trúc phân cấp thành các nhóm, ví dụ như trên Facebook thì có nhóm thông báo về các tương tác từ bạn bè như bình luận, thích, chia sẻ, kết bạn, tin nhắn,…

Information (thông tin): Là phần tin nhắn gửi tới người dùng, mục đích là giải thích ý nghĩa của cái thông báo ấy.

Type (loại): Thông báo thường được chia làm 2 loại chính là thông báo có kèm lời kêu gọi hành động và thông báo chỉ mang mục đích cung cấp thông tin.

Notiication badge (huy hiệu thông báo): Gọi là huy hiệu bởi vì các thông báo thường được thiết kế theo dạng dấu chấm hoặc kèm theo con số bên trong để thể hiện số lượng thông báo mà người dùng chưa xem.

Anchor (mỏ neo): Là nơi lưu trữ các thông báo, đây là thành phần không bắt buộc nhưng có thể coi là một nơi duy nhất để hiển thị thông báo trực tiếp đến người dùng. Một mỏ neo có thể lưu trữ tất cả các loại thông báo từ nhiều nguồn khác nhau, ví dụ như trên Facebook thì phần “Thông báo” hiển thị cả những thông báo về tương tác của bạn bè lẫn thông báo từ hệ thống. Anchor và source khác nhau ở chỗ, anchor chỉ là nơi hiển thị các huy hiệu thông báo đến người dùng để họ biết là có tổng bao nhiêu thông báo đang gửi đến, còn source là nơi hiển thị các thông báo theo nhóm riêng biệt. Ví dụ như source là thông báo từ bạn bè, tin nhắn, hệ thống, còn anchor là một cái nút hoặc một thành phần hiển thị trên ứng dụng để người dùng có thể mở để xem các thông báo.

Các thành phần của một thông báo

Thông báo là một trong những phương tiện giúp ứng dụng giao tiếp với người dùng và khiến họ tiếp tục sử dụng ứng dụng. Do đó, nó là một phần quan trọng của ứng dụng. Dưới đây là một trong những kiểu hiển thị thông báo phổ biến, và giải thích cách sử dụng từng kiểu thông báo.

Trung tâm thông báo

Với mô hình thiết kế hiển thị thông báo kiểu này, các thông báo được hiển thị trong một khu vực được định nghĩa sẵn, có thể là một trang được thiết kế riêng để chứa các thông báo, hoặc chỉ là một menu bay ra khi ai đó mở, tùy vào ứng dụng và người thiết kế chúng. Đặc điểm của mô hình này là tất cả các thông báo đều được nhét vào một khu vực, không cần biết nó xuất phát từ đâu, ví dụ như Facebook, khi mở phần “Thông báo” (được gọi là 1 anchor) lên thì bạn sẽ thấy có cả thông báo về các bình luận, các tương tác của bạn bè đối với trạng thái mà bạn đang theo dõi. Một ví dụ khác là Medium, họ cũng sử dụng mô hình này cho những thông báo của mình, tất cả thông báo nằm trong một cái anchor có icon hình quả chuông, khi được mở thì nó sẽ hiển thị một loạt những thông báo kiểu như ai đã theo dõi bạn, ai đã vỗ tay bài viết của bạn. Khi thiết kế theo mô hình kiểu này thì bạn cũng cần phải làm rõ được sự khác biệt giữa những thông báo đã được đọc và chưa được đọc.

Mô hình thông báo theo trung tâm, ưu điểm lớn nhất của kiểu thông báo này là tính linh hoạt, chỉ cần một nơi lưu trữ tất cả những thông báo từ mọi nơi.

Hướng dẫn

Tất cả các loại thông báo đều được lưu trong một khu vực, nên bạn cần có một mẫu thiết kế chung cho tất cả các loại thông báo, cần tính trước khả năng mở rộng để có thể dễ dàng áp dụng cho các thông báo của ứng dụng sau này.

Nếu các thông báo đến từ nhiều nơi khác nhau, có thể mô hình này sẽ khiến đống thông báo đó trở nên lộn xộn. Trong trường hợp này, nên nhóm những thông báo có cùng một kiểu lại với nhau. Ví dụ: “Hoàng và 3 người khác vừa gửi lời mời kết bạn”. Và luôn đảm bảo là trung tâm thông báo này dễ dàng tìm thấy và truy cập.

Khi nào thì nên sử dụng mô hình trung tâm thông báo

Sản phẩm của bạn không thể nhét được vào bất cứ thông báo nào vào các tùy chọn trên phần điều hướng sẵn có. Có thể là bởi vì các thông báo không đồng nhất với những thành phần đó, hoặc chúng không bắt nguồn từ bất cứ nơi nào trong kiến trúc thông tin của ứng dụng.

Sản phẩm của bạn có quá nhiều nơi gửi ra thông báo khiến bạn không thể đưa hết lên cùng một màn hình hiển thị.

Khi cần đưa ra một tính năng trong thời gian ngắn và không có đủ thời gian để đưa ra các kịch bản cho những thông báo. Đây là kiểu hiển thị thông báo đơn giản nhất vì nó rất linh hoạt.

Thông báo lưu trữ theo nguồn gốc

Ở mô hình này, các thông báo sẽ được lưu trữ trong những nơi mà chúng xuất phát. Ví dụ cụ thể là WhatsApp, ở cả 2 nền tảng Android và iOS thì các thông báo từ tin nhắn hay cuộc gọi đều được lưu trữ riêng rẽ. Ưu điểm của mô hình này là dẫn đến những nơi có thể tìm thông tin, nội dung dễ dàng hơn. Nhưng nhược điểm của mô hình này là không linh hoạt, khó mở rộng như mô hình kiểu trung tâm thông báo.

Mô hình thông báo lưu trữ theo nguồn gốc

Mô hình này chủ yếu phụ thuộc vào kiến trúc thông tin của ứng dụng. Thành phần điều hướng phải lưu trữ được đầy đủ các loại thông báo, các anchor khác nhau. Cũng giống như mô hình trước, điều quan trọng là những thông báo đã đọc và chưa đọc phải được thể hiện khác nhau để người dùng có thể dễ dàng nhận biết.

Hướng dẫn

Các thông báo phải được lưu trữ trong một tùy chọn trong phần điều hướng của ứng dụng, ví dụ như thông báo tin nhắn mới thì lưu trong phần “Tin nhắn”, thông báo cuộc gọi nhỡ thì lưu trong phần “Cuộc gọi”. Ứng dụng càng phức tạp thì càng nhiều nơi sinh ra thông báo, lúc này bạn sẽ cần phải sử dụng mô hình kiểu trung tâm thông báo hoặc kết hợp cả hai. Chúng ta sẽ bàn về mô hình lai này ở phần tiếp theo.

Mặc dù là các thông báo được phân loại và có nơi lưu trữ khác nhau nhưng vẫn cần có một kiểu thiết kế thống nhất.

Các anchor cần phải dễ dàng được tìm thấy và truy cập, tránh việc lồng các anchor vào nhau. Hãy tưởng tượng nếu bạn nhét thông báo về “Bạn bè” vào “Thông báo” của Facebook thì nó sẽ ngớ ngẩn như thế nào.

Khi nào thì nên sử dụng mô hình lưu trữ theo nguồn gốc

Khi tất cả những nơi sinh ra thông báo có thể được đưa ra trên một màn hình hiển thị.

Đã có kịch bản sẵn cho các thông báo sẽ được hiển thị tới người dùng như thế nào, các thông báo đều được lưu trữ với cùng 1 kiểu thiết kế giống nhau.

Mô hình kết hợp

Mô hình này là sự kết hợp của cả 2 mô hình nói trên, là mô hình được sử dụng phổ biến nhất. Các ứng dụng mạng xã hội thường sử dụng mô hình này, ví dụ như Facebook, họ sử dụng anchor “Bạn bè” cho các lời mời kết bạn nhưng lại đưa thông báo về các bình luận, tương tác vào phần trung tâm thông báo.

Mô hình thông báo kết hợp

Mô hình này có ưu điểm của cả 2 mô hình kể trên, và có thể giải quyết nhiều trường hợp. Mặc dù bạn có thể neo các thông báo đến một trung tâm thông báo, nhưng vẫn cần phải đưa ra những kịch bản và thứ tự ưu tiên cho những anchor mà được phân loại theo nguồn gốc.

Giống như mô hình kiểu lưu trữ thông báo theo nguồn gốc thì mô hình này cũng phụ thuộc vào diện tích hiển thị trên thanh điều hướng, nhưng bạn còn 1 tùy chọn nữa là vứt hết vào trung tâm thông báo

Hướng dẫn

Xác định và xếp hạng ra các mục quan trọng trong kiến trúc thông tin của ứng dụng. Công việc này giúp bạn để xác định thứ tự ưu tiên của các thông báo sẽ được hiển thị ra ở các anchor, và cái nào sẽ đưa vào trung tâm thông báo. Mô hình này phụ thuộc vào thanh điều hướng nên cấu hình cho các thông báo có thể thay đổi tùy thuộc vào kiến trúc có sẵn.

Chắc chắn rằng những anchor chính và trung tâm thông báo dễ dàng tìm và truy cập.

Khi nào thì nên sử dụng mô hình kết hợp này

Đã có hết kịch bản về các thông báo, có một số thông báo có thể đưa vào nhóm riêng và đưa ra ngoài thành một anchor, những thứ còn lại thì chưa có anchor nào để đưa vào. Tiếp tục ví dụ về Facebook, các thông báo về lời mời kết bạn được đưa hết vào 1 anchor là phần thông báo “Bạn bè”, nhưng các thông báo về bình luận, tương tác thì chưa có nơi nào để đưa vào nên gom lại trong phần trung tâm thông báo.

Có kiến trúc nguồn gốc xuất xứ thông báo lồng trong nhau, ví dụ như menu hamburger của Facebook là một anchor cho các thông báo từ các nguồn bên trong như Group, Watch, Memories, Saved…

Tất cả các mô hình bên trên đều hữu dụng khi được sử dụng trong đúng ngữ cảnh. Quyết định sử dụng mô hình nào phụ thuộc vào kiến trúc thông tin trong ứng dụng của bạn và loại thông báo bạn muốn đưa ra cho người dùng.

Bản quyền bài viết thuộc về Hoang Vu
https://medium.com/@0x8f1e7

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *